Thế giới đang bối rối về vấn đề khí thải carbon
By Epoch Times Jul 25, 2008
Jul 29, 2008, 20:32

Email this article
 Printer friendly page

Những nước sản sinh Carbon có thể dẫn đầu trong công cuộc giảm hiệu ứng khí thải.

 

 

Giảm thiểu sự thay đổi khí hậu sẽ là thách thức đáng gờm nhất của nhân loại trong thế kỷ này. Cũng may là nhiều năm nay những nỗ lực kêu gọi và hành động từ những chuyên gia môi trường và những nhà chuyên môn đang gây được những tác động tích cực lên thái độ của dân chúng. Dầu vậy ,hầu hết chúng ta vẫn c̣n đang ṃ mẫm trong bóng tối để cố gắng t́m ra một khuôn khổ tin cậy nhằm thiết lập những đối phó thích hợp.

 

Nhiều niềm tin đă được đặt ra dựa trên những giải pháp hướng thẳng về các vấn đề thị trường thương mại có nguy cơ phát phóng carbon. Nhưng trong khi các giải pháp này có thể dẫn đến sự ngăn chặn và cả giảm thiểu đi sự phát phóng carbon ở những quốc gia phát triển th́ chúng hầu như chắc chắn ngă sóng soài khi áp dụng cho các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở những nền kinh tế phát triển nhanh như Trung Quốc và Ấn Độ với dân số chiếm khoảng 40% toàn cầu.

 

Có một hiện thực là với những biện pháp như trên th́ chính là những quốc gia giàu có đ̣i hỏi sự hy sinh của những con người đang phải vật lộn trong nghèo túng. Ngay cả tại quốc gia đang phát triển bùng nổ như Trung Quốc th́ hầu như hơn một nửa dân số,tính ra là hơn cả dân số Hoa Kỳ và Châu Âu, vẫn con đang phải tranh đấu cho một khoản thu nhập dưới 2 USD một ngày. Không chính phủ hay tổ chức dân chủ nào sẽ thông qua những sự thỏa hiệp thương mại toàn cầu phức tạp như thế khi mà lợi ích cho những quốc gia bên ngoài chạy ngang trước mắt họ ,c̣n các rủi ro th́ lại rơi ngay vào kinh tế của chính dân chúng trong nước.

 

Nhưng mà việc đổ lỗi đi đâu đó hay viện dẫn ra sự bất b́nh đẳng nhằm bảo vệ cho sự không hành động này cũng sẽ chẳng thể thay đổi được một thực tế là chính sự tiêu dùng không ngơi ngớt ,mà đang ồ ạt diễu hành ở mọi ngóc ngách của thế giới, sẽ chỉ có thể làm gia tăng thêm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch mà thôi. Chúng ta cần phải t́m kiếm những câu trả lời khác.

Có một điểm mà hầu như lại không được quan tâm đúng mức đó là cách cư xử của những quốc gia sản xuất nguyên liệu hóa thách chủ yếu của thế giới. Có thể chia những quốc gia này theo nhiều cách khác nhau, như là những quốc gia khai thác và xuất khẩu dầu thô bao gồm khu vực Trung Đông (Ả Rập Saudi, Iran, Kuwait, các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất cộng thêm Nga, Mexico, Canada và Venezuela), và những quốc gia khai thác và sản xuất nhiêu liệu than đá như Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nga, Úc và Indonesia.

 

Những quốc gia này cũng có thể được phân chia ra theo một cách khác nữa là theo tiêu chí lượng phát phóng CO2 tính theo đầu người cao hay thấp.

Thật không ngạc nhiên ǵ nhiều khi mà những quốc gia có lượng khí thải CO2 cao lại chính là những quốc gia giàu có như Mỹ, Úc, Canada và khu vực vùng vịnh, Ả Rập Saudi, Các tiểu vương quốc Ả Rập, Qatar và Kuwait.

Nói đơn giản, các quốc gia nhằm trong nhóm sản xuất nhiên liệu hóa thạch chính của thế giới  cũng chính là những quốc gia có sự phát phóng CO2 lớn nhất. Nhiều quốc gia khác có thể cũng giàu có nhưng họ lại có lượng phát phóng CO2 tính trên đầu người thấp hơn nhiều. Lấy ví dụ là Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Họ xếp hạng 32 trong danh sách những nước có lượng khí thải CO2 cao, vị trí này thấp hơn rất nhiều so với những quốc gia giàu có khác, như Mỹ xếp hạng 10.

Trong khi dân số của những quốc gia giàu có này chỉ chiếm ít hơn 10% dân số toàn cầu th́ lượng khí thải CO2 tính trên đầu người lại cao gấp 5 đến 20 lần so với những quốc gia nghèo khó hơn, tính cả luôn Trung Quốc và Ấn Độ.

Vậy th́ những quốc gia này phải có trách nhiệm về đạo đức và môi trường cho việc cắt giảm khí thải. Họ phải cam kết cắt giảm lượng phát phóng khí thải tính trên đầu người đi một nửa càng sớm càng tốt và kéo xuống con số trung b́nh của thế giới. Theo những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực này th́ họ dự báo là lượng CO2 trong bầu khí quyển đă đạt đến ngưỡng an toàn cho phép mất rồi.

Điều này không hề viển vông. Nhật Bản chỉ có lượng khí thải CO2 trên đầu người là 9.8 tấn, bằng một nửa so với Mỹ và Canada là 20 tấn, và bằng ¼ so với Các tiểu vương quốc Ả Rập và Kuwait là 38 tấn.

 

Những quốc gia giàu có đang vung tay quá trán

Thật buồn là, trái ngược với Nhật Bản th́ những nước như Các tiểu vương quốc Ả Rập lại bùng nổ ra quá mức với những đô thị xa hoa với căn hộ lộng lẫy và các khách sạn ngầm dưới nước.

C̣n ở một thành phố tên Perth phía Nam nước Úc, hiện thời họ đang có mật độ “dấu chân sinh thái” (ecological footprint) cao nhất, 9 héc ta trên đầu người ,hơn bất ḱ thành phố nào khác trên thế giới. “Dấu chân sinh thái” là một định nghĩa xác định dựa theo tiêu chí kinh tế,xă hội,môi trường kết hợp với việc tiêu thụ tài nguyên, đất đai và ảnh hưởng của chúng đối với bầu khí quyển. Có thể nói đơn giản nó là thước đo cho nhu cầu khai thác diện tích tự nhiên của con người nhằm phục vụ cho cuộc sống của ḿnh. Con số càng cao cho thấy nhu cầu chiếm dụng tự nhiên càng lớn.

Những sự chiếm dụng quá mức như thế này có thể xảy ra được là do giá nhiên liệu siêu rẻ và sự khai thác tài nguyên vô hạn độ. Tại Abu Dhabi, giá điện năng chỉ khoảng 3 xu cho 1 Kwh ,trong khi ở Europe là 40 xu, c̣n xăng th́ chỉ 30 xu, c̣n rẻ hơn cả nước.

Vậy mà trong khi người ta thường hay nói rằng những nguy hại cho môi trường và những quyết định kém cỏi về sự bền vững là do sự thiếu hụt của ngân sách chính phủ trong việc cân đối các chủ trương phát triển kinh tế ,th́ sự thật lại ngược lại hoàn toàn.

Chẳng phải Trung Quốc hay Ấn Độ là tội nhân xấu xa nhất trong việc làm thay đổi khí hậu ,mà c̣n cả là những quốc gia giàu nhất thế giới, những quốc gia cũng được xem là có nguồn tài nguyên nhiên liệu lớn nhất.

 

Chúng ta cần phải nhắc nhở những quốc gia sản sinh năng lượng này rằng họ có trách nhiệm trong việc nỗ lực cân bằng giữa đ̣i hỏi giữ cho nền kinh tế phát triển với việc nhận thức được rằng những quyết định của họ ngày hôm nay sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia khác và cả những thế hệ tương lai trong việc chia sẻ những nguồn tài nguyên chung.

Và đây là những việc chúng ta có thể làm được

Ở cấp độ quốc nội, những quốc gia sản xuất năng lượng giàu có này phải tạo nên sự thay đổi trong tầm nh́n của họ về vấn đề bảo vệ môi trường và các giải pháp cho sự phát triển bền vững. Điều này nghĩa là họ phải khống chế cho giá cả xăng dầu và của các nguồn nhiên liệu khác chỉ ở trong phạm vi biên giới quốc gia, đồng thời kiềm hăm những sự gia tăng sử dụng quá mức.

Những sự giới hạn này có thể đạt được bằng những chính sách điều tiết cứng rắn và mạnh mẽ của mỗi quốc gia. Các biện pháp có thể bao gồm việc sử dụng sáng tạo những công cụ tài chính ở cấp địa phương nhằm khuyến khích cho việc cắt giảm CO2 và theo cách đó triển khai việc sử dụng công nghệ thích hợp.

Và ở cấp độ quốc tế, những quốc gia này phải đảm đương trách nhiệm lớn lao hơn để thể hiện vai tṛ cầm cương trong việc quản lư tài nguyên của họ. Đúng là xăng dầu và những nhiên liệu khác đă trở thành then chốt trong việc phát triển nền kinh tế thế giới trong suốt 2 thập kỉ gần đây, nhưng đồng thời th́ chính nó cũng đẩy chúng ta đến bên bờ vực của thảm họa khí hậu.

Theo đó chúng ta thấy rằng những quốc gia sản xuất nhiên liệu này không cần thiết phải làm giàu thêm của cải từ việc xuất khẩu năng lượng nhằm bảo đảm cuộc sống cho dân chúng, mà trái lại việc giới hạn xuất khẩu lại chính là giải pháp khôn ngoan để ngăn cản bớt sự tiêu dùng đang gia tăng hung hăn trên toàn  cầu. Như vậy điều đó lại cũng có tác dụng khuyến khích việc phát triển kinh tế dựa trên sự tập trung vào hiệu quả sử dụng năng lượng và phát triển việc t́m kiếm các nguồn năng lượng thay thế, kể cả năng lượng hạt nhân.

 

Tiếp thêm về vấn đề “trách nhiệm từ phía các quốc gia sản xuất năng lượng”, đặc biệt là trong giai đoạn giá cả xăng dầu đang lập thêm những kỷ lục mới như hiện nay, chúng ta cần yêu cầu những nhà sản xuất này trích ra một phần doanh thu của họ vào việc phát triển và thương mại hóa công nghệ giảm thiểu sự phát phóng khí thải, thu hồi carbon và kể cả cho những nguồn năng lượng tái tạo được như năng lượng nước, gió, năng lượng mặt trời ,cả năng lượng hạt nhân và rất nhiều giải pháp đa dạng khác cho việc sử dụng toàn cầu.

Những giải pháp cấp bách này phải vươn xa hơn nữa về việc tuyên truyền cho sự phát triển bền vững bằng các chiến dịch quan hệ công chúng và thu hút sự quan tâm dành cho mục tiêu hướng đến những thành phố không-carbon ở vùng vịnh hoặc những hiệp định thương mại liên quan đến khí thải ở châu Âu và Mỹ.

 

Việc thiết lập các quỹ cho việc thúc đẩy giải pháp cho phát triển bền vững có thể tạo lập bằng việc đánh thuế lên các nhà sản xuất, các quỹ này sẽ dùng cho việc hỗ trợ phát triển các phương thức tiết kiệm năng lượng và năng lượng sạch.

Những cách sử dụng khác của quỹ này bao gồm việc thực hiện các giải pháp bảo tồn tự nhiên cho các quốc gia nghèo hoặc ngay cả chuyên tâm cho việc tác động đến các vấn đề cố hữu của các nước chậm phát triển, việc sử dụng những quỹ dư thừa như thế này có ư nghĩa hơn nhiều so với việc xây dựng những thành phố tương lai xa vời hay là các khu nghỉ mát phủ tuyết giữa sa mạc.

 

Những quốc gia vùng vịnh, Mỹ, Canada và Úc cần phải dẫn đầu trong việc hỗ trợ, tạo dựng và quản lư các quỹ này cùng với sự đóng góp từ các quốc gia khác như Nhật Bản và châu Âu. Thực thi cùng nhau, các quốc gia sản xuất năng lượng này sẽ có được sức mạnh tài chính lớn để tạo nên sự khác biệt lớn lao, và c̣n có thể tiến đến việc hợp tác toàn thế giới trong một khuôn khổ hoạt động thống nhất. Hiểm họa về sự thay đổi khí hậu có thể được giảm thiểu bằng cách thức hành động đúng đắn và hiệu quả.


Source: Reprinted with permission from YaleGlobal Online – www.yaleglobal.yale.edu

Chandran Nair is founder and CEO of the Global Institute for Tomorrow.

 


© Copyright 2004 by YourSITE.com

Top of Page